Theo một số liệu thống kê ở Mỹ cho thấy, có tới 44% các ca suy thận mắc mới hàng năm nguyên nhân là do bệnh tiểu đường. Người bệnh suy thận do tiểu đường thường có thời gian sống ngắn hơn và tỉ lệ tử vong cũng cao hơn so với các nguyên nhân khác.

Nhiễm khuẩn tiết niệu

bien-chung-than-nhiem-khuan-tiet-nieu

Biến chứng thận do tiểu đường - nhiễm khuẩn tiết niệu

Ở phần kẽ thận tiết niệu, biến chứng hay gặp nhất là nhiễm khuẩn tiết niệu. Đặc biệt là bệnh nhân tiểu đường nguy cơ bị nhiễm khuẩn rất cao. Nguyên nhân do các loại vi khuẩn Gram âm chiếm tới 90%. Chúng đi ngược từ niệu đạo qua bàng quang rồi lên bể thận. Nhiễm khuẩn tiết niệu ở bệnh nhân tiểu đường thường hay gặp các loại vi khuẩn Escera Coli, liên cầu, tụ cầu. Ít gặp hơn là nhiễm nấm, nhiễm Chlamydia.

Triệu chứng của nhiễm khuẩn tiết niệu thường là đái buốt, đái dắt, đái đục, nặng hơn là đái mủ, đái máu… Người bệnh sẽ có cảm giác đau buốt lúc tiểu, nóng rát và đau tăng lên cuối bãi. Nếu có hiện tượng sốt, đau vùng hông lưng, đái ra mủ, máu thì cần phải tới bệnh viện vì có thể là bệnh nhiễm khuẩn đã lên đến thận.

Cách trị bệnh này phải luôn ghi nhớ nguyên tắc giải phóng thông thoáng đường tiểu, uống nhiều nước, uống kháng sinh hợp lý. Do nhiễm khuẩn đường tiết niệu hay tái phát nên tuyệt đối không được lạm dụng và uống bừa bãi kháng sinh. Hơn nữa, phải tuyệt đối tuân thủ phác đồ một cách hợp lý để hạn chế nguy cơ tái phát bệnh.

Viêm mạch thận do tiểu đường

bien-chung-than-viem-mach-than

Biến chứng thận do tiểu đường - Viêm mạch thận

Bệnh nhân tiểu đường thường hay gặp phải các tổn thương mạch máu. Triệu chứng thiếu máu ở thận là tăng huyết áp. Cũng giống như các bệnh về mạch máu khác, bệnh về mạch thận do tiểu đường cũng có các biến chứng: xơ vữa mạch, huyết khối, huyết tắc mạch máu... Ở bệnh nhân tiểu đường, biến chứng xơ vữa mạch cao gấp nhiều lần, mạch bị hẹp lại gây thiếu máu đến các cơ quan.

Rối loạn chuyển hóa lipid, hút thuốc lá, tăng huyết áp càng có nguy cơ cao gây tổn thương mạch thận ở người bị tiểu đường.

Bệnh cầu thận do tiểu đường

bien-chung-tieu-duong-benh-cau-than

Biến chứng thận do tiểu đường - Viêm cầu thận

Bệnh nhân tiểu đường giai đoạn đầu gây tổn thương ở thận chính là giãn khoảng kẽ, phì đại gian mạch. Theo kết quả nghiên cứu lâm sàng, kích thước quả thận tăng lên, mức lọc cầu thận tăng lên. Ở bệnh nhân tiểu đường kích thước thận tăng cả về chiều rộng, chiều dài, chiều cao tới 140% so với bình thường, mức lọc cầu thận thì tăng tới 150%. Nếu không được can thiệp thì khả năng sẽ dẫn tới giai đoạn microalbumin niệu. Lúc này chức năng của thận bắt đầu suy giảm, màng đáy cầu thận dày lên, có nhiều chỗ bị vỡ. Nếu không can thiệp kịp thời sẽ gây xơ hóa mạch cầu thận và thận sẽ mất chức năng hoàn toàn.

Suy thận giai đoạn cuối ở bệnh nhân tiểu đường tuýp 2

bien-chung-than-suy-thanBiến chứng thận do tiểu đường - Suy thận

Bệnh suy thận giai đoạn cuối ở bệnh nhân tiểu đường tuýp 2 chiếm 90%, tuýp 1 khoảng 10%. Từ những tổn thương sớm của thận và bệnh lý kéo dài dẫn tới suy thận giai đoạn cuối. Muộn hơn, bệnh nhân xuất hiện những triệu chứng lâm sàng: xuất hiện đạm niệu, chức năng thận mất đi, ure tăng lên, các thành phần nitơ phi protein và cuối cùng thận mất chức năng hoàn toàn.

Cách điều trị suy thận giai đoạn cuối do tiểu đường bằng thực phẩm phúc mạc (lọc màng bụng) (12% bệnh nhân được điều trị theo phương pháp này), chạy thận nhân tạo (trên 80%), ghép thận (chỉ khoảng 8%). Ở bệnh nhân tiểu đường việc điều trị thay thế thận có nhiều điểm khác so với những bệnh nhân khác: lọc máu sớm hơn; nếu mức lọc cầu thận ở mức 15 - 20ml/phút thì bắt buộc phải can thiệp để ngăn các biến chứng khác; tỷ lệ biến chứng cao hơn và thời gian sống ngắn hơn.

Một số lời khuyên của bác sĩ

Để kiểm soát biến chứng thận do tiểu đường hiệu quả cần phải tuân thủ nguyên tắc chặt chẽ, phối hợp nhiều phương pháp và có sự theo dõi cẩn thận. Lưu ý những điều sau:

  • Kiểm soát tốt chỉ số đường huyết: do sự tương quan chặt chẽ giữa nồng độ HbA1c với sự xuất hiện và khối lượng của protein niệu cũng như chức năng thận, nên kiểm soát tốt đường huyết sẽ làm giảm đáng kể nguy cơ bệnh thận và suy thận.
  • Kiểm soát huyết áp: huyết áp cần đạt được của bệnh nhân tiểu đường phải thấp hơn bệnh nhân tăng huyết áp, thường là 120/70mmHg. Thuốc thường hay sử dụng là ức chế men chuyển đổi angiotensin (renitec, lisinopril) hay ức chế thụ thể angiotensin II (aprovel, telmisartan).
  • Kiểm soát cân nặng: người bị béo phì có nguy cơ bị suy thận nhiều hơn so với người không béo phì.
  • Tuyệt đối bỏ thuốc lá: không chỉ giúp giảm nguy cơ suy thận mà còn giảm các nguy cơ biến chứng tim mạch.
  • Hạn chế ăn đạm cũng giúp giảm khả năng tiến trin của bệnh thận.
  • Duy trì chế độ vận động, tập thể dục hợp lí.

Minh Dương





Lưu

Lưu